Top posters
sweetcat (318)
 
comnam94 (230)
 
Yubin (173)
 
tý chuột (105)
 
sink12 (94)
 
Thanh_Thu (93)
 
Maria_Mytamun (70)
 
_Nobody_ (57)
 
badboy2684 (55)
 
pe_and_nhox_pin (43)
 

Latest topics
» Nón - tuyên truyền phòng chống HIV
by comnam94 Thu 08 Sep 2011, 12:05 pm

» Nhật ký mỗi ngày.
by Maria_Mytamun Wed 31 Aug 2011, 7:55 am

» TKB 12A11 áp dụng từ ngày 15/8/2011
by sweetcat Sat 13 Aug 2011, 7:40 am

» Where is the promised happiness - Jay Chou
by sweetcat Sun 24 Jul 2011, 4:59 pm

» cat's diary
by sweetcat Sun 24 Jul 2011, 4:57 pm

» Comnam vovan (T.Vy )
by Yubin Fri 22 Jul 2011, 11:27 am

» Miss u so much much
by comnam94 Fri 15 Jul 2011, 8:32 pm

» Comnam's Note
by comnam94 Wed 13 Jul 2011, 7:17 pm

» Người bạn thật sự
by sweetcat Fri 08 Jul 2011, 8:08 am

» Chuyện hài
by sweetcat Wed 08 Jun 2011, 5:32 am

» super hài :)))
by SoNe Tue 07 Jun 2011, 9:08 am

» Lá thư gửi cho bố mẹ . I'm gay !!!
by sweetcat Wed 25 May 2011, 2:48 pm

» offline cuối năm
by sink12 Thu 19 May 2011, 9:59 am

» may mem b11 zo co viec gap nha !!! :)))))
by sweetcat Sun 15 May 2011, 6:42 am

» Il Divo - Regresa A Mi
by sweetcat Sun 15 May 2011, 6:41 am

» While your lips are still red
by comnam94 Fri 13 May 2011, 6:50 pm

» thi xong rồi, B11 mình có đi đâu hum????
by sweetcat Sun 08 May 2011, 5:41 pm

» power of words
by sweetcat Sat 07 May 2011, 6:00 pm

» I'm online
by sweetcat Thu 05 May 2011, 2:02 pm

» Hễ đi là đến
by sweetcat Thu 05 May 2011, 1:59 pm


Bàn về chuyện tự học

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Bàn về chuyện tự học

Bài gửi by comnam94 on Wed 27 Apr 2011, 7:38 pm

Bàn về chuyện tự học
Cao Xuân Hạo
Kiến thức ngày nay
03:51' PM - Thứ bảy, 23/04/2011

Trước hết, cần phải nói rằng, tự học là một chuyện vạn bất đắc dĩ, vì ai cũng biết câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. Một câu hoàn toàn đúng, đúng hơn là người ta tưởng rất nhiều.

Có lẽ không ai lại không muốn có thầy khi cần học một nghề gì, hay dù chỉ là một trò hay một mẹo vặt nào cũng vậy. Và dù không có thầy “chính danh” thì vẫn có thể học từ những người mình quen biết. Đôi khi những người này, chính nhờ cái số đông và tính đa dạng của họ, còn có thể dạy cho mình nhiều hơn và một cách có hiệu quả hơn cả thầy nữa. Học thầy không tày học bạn kia mà!

Viết đến đây tôi sực nhớ đến lời một nhà văn Pháp mà tôi không nhớ tên, nói rằng xưa nay chưa có và không thể có người nào thực sự tự học cả. Và chỉ có những kẻ cực kỳ hợm hĩnh và vô ân mới có thể nói khoác rằng mình là người tự học.

Quả đúng như vậy: ai mà chẳng học của người khác? Làm gì có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những gì mình biết? Trước tiên, người ta học mẹ mình, rồi đến bố mình, rồi đến những người sống quanh. Và nếu không nhớ điều đó mà nói rằng tự mình tìm biết lấy mọi sự thì đúng là cực kỳ ngu dại, hợm hĩnh và vô ân.

Cho nên, phải hiểu hai chữ “tự học” theo một nghĩa hẹp hơn rất nhiều, kể cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng tấm gương của cách sống và cách hành động của họ. Tấm gương ấy có thể tích cực hay tiêu cực: những hành vi xấu xa hay đáng ghét mà ta chứng kiến và thể nghiệm từ người khác cũng bổ ích cho ta không kém gì những hành vi tốt đẹp, nếu ta nhờ cái “tính bản thiện” vốn có của con người mà biết ghét cái xấu và yêu cái tốt.

Sau khi đã hạn định khái niệm “tự học” như vậy, ta hãy trở về với hai chữ tự học đúng như số đông thường quan niệm. Người tự học là một danh từ (hay danh ngữ) có ít nhiều sắc thái “xấu nghĩa” trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Cho nên ngay cả những người vốn tự hào rằng mình tự học mà thành tài cũng thấy khó chịu khi có ai giới thiệu mình bằng danh từ này. Vì, trong ý thức của phần đông, khó lòng có ai “tự học” mà thành tài thực sự, và chính những người “tự học” cũng có phần nào chia sẻ cái ý thức ấy, dù những người tự học có tự hào đến đâu về những nhân tố chủ quan và khách quan đã cho phép họ gây dựng lấy sự nghiệp của mình.

Cách đây bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logic học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái việc dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn học giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp: “Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó?”

Thật ra, càng về sau, tôi càng hiểu là câu nói của bạn tôi hoàn toàn đúng.

Cố giáo sư Hoàng Tuệ có kể lại cho tôi và nhiều người khác nghe rằng, vào những năm 70, khi ông nhắc đến tên một nhà ngữ học Việt Nam có tiếng trong khi nói chuyện với A.G.Haudricourt, nhà ngữ học Pháp lừng danh này đã thốt lên một câu làm cho ông chột dạ: “Cái anh chàng tự học ấy sẽ không làm được gì nên thân đâu!”

Ông kể thêm rằng lúc bấy giờ, ông nghĩ bụng: “Chắc Haudricourt tưởng tôi là dân “chính quy”, tốt nghiệp đâu ở Liên Xô hay ở Mỹ về, mới nói như thế” (vì ông hiểu câu trên có hiệu lực đối với tất cả những người tự học). Ông quên mất rằng chính Haudricourt cũng là người tự học. Nhà ngữ học nổi tiếng này vốn là một kỹ sư Nông học, chưa hề được đào tạo chính quy về ngữ học bao giờ, nhưng đã viết nhiều sách và bài vở về ngành này, nhất là về ngữ học lịch sử. Và ngay sau khi chứng minh được nguồn gốc Môn-Khmer của tiếng Việt năm 1954, 1959 thông qua sự chuyển biến của các phụ âm thành thanh điệu, ông đã được toàn giới đồng nghiệp trên thế giới coi là một nhà ngữ học lớn, mặc dầu mãi đến năm 1984, nghĩa là khi đã thành một cụ già bảy mươi mấy, ông mới có bằng tiến sĩ.

Kinh nghiệm ấy của Haudricourt và của một số nhà bác học khác cho thấy rằng người tự học không phải bao giờ cũng kém cỏi. Và nếu đem số người tự học mà thành tài so với số người có bằng cấp hẳn hoi mà dốt nát, chưa chắc bên nào đông hơn. Nhưng cái định kiến làm cho hai chữ tự học có sắc thái coi thường tuyệt nhien không phải là vô căn cứ. Nói gì thì nói, chứ những khó khăn mà người tự học chắc chắn là lớn gấp bội so với những khó khăn của người được đào tạo chính quy.

Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết. Tôi và các bạn đồng nghiệp đã từng nhiều lần giật mình toát mồ hôi lạnh mỗi khi nhận ra một lỗ hổng to tướng nằm trong vốn tri thức của mình, trong khi đang làm nhiệm vụ của người dẫn đường cho cả một lớp thanh niên đi theo với một lòng tin tuyệt đối.

Cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu có một bài viết rất hay về giai đoạn khủng hoảng tinh thần mà một số nhà phát minh lớn trong lịch sử nhân loại đã trải qua, khi họ giật mình nhận thấy điều họ mới phát minh bác bỏ các bậc tiền bối của họ một cách quá phũ phàng. Vì lòng ngưỡng mộ và sùng kính sâu xa đối với những người mà xưa nay họ vẫn coi là thầy, họ thấy mình quá táo tợn và hỗn xược. Một câu hỏi khủng khiếp hiện lên trong tâm trí họ: “Chẳng lẽ những con người từng làm loé lên trong tâm trí mình cái tia sáng làm nên tất cả những gì giá trị nhất trong tri thức của mình, chẳng lẽ những con người ấy sai? Hay chính vì còn quá dốt mà mình nghĩ ra cái điều mới mẻ này, cái phát minh mà mình tưởng đã đủ để phủ định họ?”

Thế là các nhà cách tân bắt đầu soát lại từ đầu những luận điểm của mình để tìm cho ra cái chỗ sơ hở nào đó đã dẫn tới chỗ phủ định các bậc thầy. Cái việc đó làm thành một cơn vật vã kéo dài suốt một thời gian dài lao tâm lao lực. Hầu hết các nhà khoa học lớn, trước khi dám công khai phủ nhận những lời phàn truyền có tính chất Thánh kinh mà họ đã học thuộc lòng từ thuở bé từ những bậc tiền bối mà họ vẫn hằng sùng kính, đều phải trải qua cơn vật vã ấy.

Ở đây có thể có hai khả năng. Một là người làm khoa học, sau những cố gắng kiểm nghiệm lại, thấy rõ mình nhầm ở một cái khâu nào đó, bèn từ bỏ giả thuyết đã đề ra, trở lại điểm xuất phát và bắt đầu lại quá trình khảo sát. Hai là anh ta cảm thấy mình không nhầm, ngay cả khi nghe những lời phản biện của các bạn và các thầy, vì anh có được những lý lẽ căn cứ trên những dữ liệu đủ chắc chắn để bác bỏ những lời phản biện đó và xác nhận lý thuyết của mình như một bước cách tân thực sự. Dù kết quả của cuộc kiểm nghiệm ấy có đau xót ra sao, thì anh ta cũng trưởng thành lên một bước rất dài. Miễn sao anh trung thực với chính mình và với các sự kiện có liên đến vấn đề, để chấp nhận một kết luận đúng, dù nó có làm tổn thương đến lòng tự ái của anh đến đâu đi chăng nữa.

Với người tự học, khả năng vẫn nhầm lẫn ngay cả sau khi trải qua cuộc khủng hoảng ấy lớn hơn rất nhiều so với người được đào tạo chính quy. Vì sự phản biện trong cảnh cô đơn là việc cực kỳ khó khăn. Ở đây có một vực thẳm không đáy chờ sẵn người tự học: đó là thảm cảnh của chứng vĩ cuồng, mà tôi đã có dịp bàn ở một chỗ khác. Lâm vào thảm cảnh này, người tự học sẽ trở thành kẻ điên rồ không phương cứu chữa, một phế nhân không có lấy được niềm an ủi tối thiểu của các phế nhân là lòng thương xót của đồng loại: không ai có thể xót thương một kẻ giương giương tự đắc, tự cho phép mình khinh miệt mọi người chỉ vì mình học không đến nơi đến chốn.

Người trí thức chân chính không hẳn là người biết nhiều. Điều quan trọng hơn là họ biết rõ mình biết cái gì, và không biết cái gì. Biết rõ mình không biết cái gì khó gấp ngàn lần biết rõ mình biết cái gì. Và điều đó chính là thước đo chính xác nhất của cái gọi là “trình độ văn hoá”.

Người có học vấn thực sự, nhờ đã trải qua những bước đường gian nan, cực nhọc để có được những tri thức mà trước kia mình tưởng rất dễ, biết rằng những điều mình học được chỉ như hạt muối bỏ bể so với những điều mình chưa học. Và bao giờ cũng phải có học một cái gì đã, rồi mới bắt đầu biết là mình không biết cái gì. Cho nên người có học không bao giờ nghĩ rằng có những ngành nghề mà mình không cần giờ học nào cũng có thể bàn đến được, càng không bao giờ nghĩ rằng mình đủ sức viết hàng ngàn trang sách về những môn ấy để dạy mọi người.

Đáng tiếc là khá nhiều người đã thành công rực rỡ trong một lĩnh vực nào đó rất dễ có ảo giác là người lỗi lạc như mình học gì cũng giỏi và thậm chí không học cũng biết. Ngay từ cái giây phút mà ở người trí thức sinh ra cái ảo giác này, thì anh ta lập tức không còn là người trí thức nữa và trở thành con người lố bịch và ngu muội nhất thế gian: một kẻ vĩ cuồng. Đối với người tự học, cái hiểm hoạ này dễ trở thành hiện thực hơn đối với người học chính quy rất nhiều.

Cho nên, người tự học không nên tự ti, chỉ nên cảnh giác đối với bản thân. Không có một người thầy để kiểm tra mình, để thường xuyên nhắc nhở cho mình nhớ rằng mình chưa trở thành vĩ nhân trong lĩnh vực của mình và không biết gì trong các lĩnh vực khác, thì chính mình phải thường xuyên làm việc đó thay cho người thầy.

Nhưng trong thực tế, nhất là ở nước ta, số người có năng khiếu mà được học chính quy xưa nay cực hiếm, cho nên việc tự học cần phải được khuyến khích và giúp đỡ bằng mọi phương tiện. Ở các nước tiên tiến, nơi mà điều kiện để học chính quy rất thuận lợi , những loại sách tự học vẫn được xuất bản rất nhiều, và cho rất nhiều ngành nghề khác nhau, trong khi ở ta loại sách này rất hiếm (trừ sách học tiếng Anh).

Nhưng bao giờ nói đi rồi cũng phải nói lại: người được học chính quy không phải bao giờ cũng thành tài, cũng trở thành người có học thức. Bên cạnh cái định kiến cho rằng người tự học không bao giờ học đến nơi đến chốn, lại có cái định kiến cho rằng chỉ cần tốt nghiệp từ một trường lớn, có một người thầy danh tiếng lừng lẫy, là đủ bảo đảm một vốn học thức uyên thâm.

Đến đây, lại phải nói ra một điều mà thoạt nghe có vẻ ngược đời. Đó là dù có học trường gì, thầy nào nổi tiếng đến đâu chăng nữa, thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công tự học của người học trò. Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng.

Ở nhà trường, dù chỉ nói đến môn học chính, người đi học chỉ học một tuần mươi giờ là cùng. Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫn chứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệ thêm với thực tế . ) nhiều gấp mấy 2-5 lần so với thì giờ trên lớp. Cho nên ngay đối với người học chính quy, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớp nghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận

Người thầy giỏi có thể lầm cho một số học trò trở thành một người say mê môn học mà vốn mình không thích thú gì. Nhưng với một người thầy không giỏi, người học trò ham học cũng có thể tìm thấy hứng thú như khi đọc một cuốn sách hay. Còn với một người học trò không ham học chút nào thì dù thầy có gíảng hay đến bao nhiêu cũng không gây được men say trong lòng người ấy. Và dĩ nhiên họ không hơi đâu mà tìm sách đọc thêm.

Vả chăng, ở đây cũng còn phải tính đến nhiều nhân tố khác nữa: gia đình, môi trường xã hội

Người lấy danh vọng của trường và của thầy làm niềm tự hào của mình cũng không khác bao nhiêu so với người lấy tấm bằng làm mục đích của đời mình. Đó là những người lấy danh vọng và địa vị làm mục đích, chứ không phải là những người ham học. Họ cũng giống những người lấy danh vọng tổ tiên làm niềm tự hào cho đời mình. “Ông nội tớ đỗ trạng nguyên, thì tớ đủ hơn mọi người trong tỉnh rồi, còn gì phải học nữa?”

Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của di truyền. Cái gen tài năng rất có thể là một nhân tố không thể thiếu được trong sự nghiệp của một nghệ sĩ hay một nhà bác học. Nhưng xưa nay ai cũng biết không phải 100% con cháu dòng giống đều là những người tài năng. Như rất nhiều bậc thiên tài khác đã khẳng định, nhân tố di truyền chỉ cho ta điều kiện tiên quyết mà thôi. Là con nhà nòi, ta có đúng 10% khả năng trở thành nhân tài. Còn 90% nữa là do sức lao động bỏ ra trong ba bốn chục năm đèn sách. Con nhà nòi, dù có năng khiếu bẩm sinh đến đâu chăng nữa mà không dày công học hỏi, nghiên cứu và thực nghiệm, thì mãi mãi chỉ là kẻ thất học mà thôi.

Nói tóm lại, tự học là một cách học như mọi cách học khác, nhưng người không được học chính quy gặp khó khăn hơn nhiều, cho nên dễ nhầm lẫn hơn. Người đó cần hiểu hết những sự thiệt thòi mà mình phải chịu, và cố gắng lấp kín những kẽ hở có thể rất nhiều do không có người hướng dẫn.

Mặt khác, người được đào tạo chính quy cũng không thể không tự học, nghĩa là giữ vai trò chủ động trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã được học từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học trò của mình nữa.

(Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001)
Nguồn: Kiến thức ngày nay

http://chungta.com/Desktop.aspx/GiaoDuc/Cam-Nghi-Ve-Giao-Duc/Ban_ve_chuyen_tu_hoc/
avatar
comnam94
Admin

Tổng số bài gửi : 230
Points : 369
Join date : 14/11/2010
Age : 23

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bàn về chuyện tự học

Bài gửi by Admin on Thu 28 Apr 2011, 6:22 pm

tự học phải kèm theo tác dụng của việc đọc sách
Tại sao nên cùng con đọc sách:
- Rất nhiều người trong chúng ta thích đọc và đó là việc chúng ta cần làm. Không nhắc tới việc đọc sách, báo, thì hàng ngày chúng ta vẫn thường đọc cả những tên nhãn mác, những biển báo, kí hiệu. Vì thế hãy để cho các con nhìn thấy chúng ta đọc nhiều thứ khác nhau như đọc thư, thẻ, công thức làm bánh…để tạo cho con sự thích thú và tích cực với việc đọc.



- Ngôn ngữ là phương tiện chúng ta giao tiếp với mọi người. Nhờ có ngôn ngữ, ta khám phá nhiều hơn về thế giới và về chính chúng ta. Đọc sẽ là một cách hữu hiệu để khám phá ngôn ngữ và thế giới.

- Những đứa trẻ thích đọc thì có thể trở thành một người tự tin trong quá trình học tập

- Đọc sách có thể trở thành một thú vui cho các con chứ không phải là một nhiệm vụ

- Những câu chuyện và những mốc thời gian quan trọng trong chuyện có thể trở thành những thời điểm đặc biệt cho cả bố mẹ và các con. Nếu câu chuyện và những tình tiết là vui vẻ thì mối quan hệ giữa cha mẹ và các con cũng trở nên vui vẻ hơn.

- Những câu chuyện còn giúp các con biết đối mặt với những khó khăn, những sợ hãi mà các con gặp phải trong cuộc sống hàng ngày
Nếu như bạn là người không thích đọc thì bạn vẫn cần thể hiện cho các con thấy rằng việc đọc là rất quan trọng. Bạn có thể để sách ở nhiều nơi trong ngôi nhà của mình để các con nhìn thấy và hãy nói với con rằng mẹ ước sao khi còn nhỏ bạn cũng có những cơ hội để đọc sách như các con bây giờ

Tác dụng của những cuốn sách và những câu chuyện

- Sách giúp con phát triển ngôn ngữ và tư duy

- Các con có thể tìm hiểu thế giới qua nhưng cuốn sách có tranh ảnh minh họa

- Nếu con bạn còn quá nhỏ, bạn vẫn có thể đưa ra những bức tranh đơn giản và gọi tên những sự vật có trong bức tranh ấy để dạy con gọi tên những đồ vật mà con nhìn thấy

- Các con còn học được nhiều thứ từ những cuốn sách như về hình khối, màu sắc, miêu tả sự vật trông như thế nào, con người và cuộc sống của con người

+ Ví dụ, từ câu chuyện “3 con gấu”, các con biết đươc rằng có 3 con gấu, một gấu bố, một gấu mẹ, một gấu con, con nào to, con nào bé….Cứ như vậy, các con tự tìm hiểu, khám phá mà không cần dạy áp đặt. Các con biết được là do các con thích đọc đấy

- Những câu chuyện còn giúp các con phát triển trí tưởng tượng

Đọc sách giúp trẻ trải qua các cung bậc cảm xúc

- Khi các con đọc hoặc nghe kể một câu chuyện cảm động, các con cũng sẽ có những cảm xúc của riêng mình và hiểu được phần nào cảm xúc của những người khác. Các con biết rằng không chi có mình con cảm thấy như vậy, mà cũng có nhiều người có tình cảm giống như con. Điều này giúp các con nhận thức được những cảm xúc của mình là tốt hay không tốt

- Cha mẹ cũng sẽ hiểu hơn về cảm xúc của con qua những phản ứng của con với các tình tiết, cảm xúc trong câu chuyện. Nếu con thích câu chuyện đó thì có thể là vì nó có ý nghĩa đặc biệt với con, hoặc những nhân vật trong chuyện có cảm xúc giống như con

- Khi cha mẹ đọc cho con nghe một câu chuyện, cha mẹ sẽ hiểu hơn về cảm xúc của con. Ví dụ như trong chuyện có một bạn nhỏ, hoặc một con vật rất sợ bóng tối, thì con mình cũng sẽ hiểu rằng hóa ra các bạn nhỏ đều rất sợ bóng tối.

- Những câu chuyện, những cuốn sách sẽ giúp các con chống lại sự sợ hãi. Khi các con nghe hoặc đọc câu chuyện nhiều lần thì sự sợ hãi sẽ dần dần tan biến đi, vì các con đã quen hơn. Vì thế, có những câu chuyện bạn có thể đọc đi đọc lại nhiều lần nếu các con muốn

Đọc sách giúp các con tự tin hơn

- Lòng tự trọng và tự tin của con người sẽ càng cao hơn khi người ta biết được mình đang ở đâu trong thế giới này. Những câu chuyện về gia đình do bà hoặc bố mẹ kể bao giờ cũng giúp trẻ xác đinh được rằng chúng là con, là cháu trong gia đình.

- Những câu chuyện kể trước khi đi ngủ sẽ tạo sự thích thú cho con, khiến con gần gũi với bạn hơn, và muốn lên giường nghe bạn kể chuyện hơn

- Những câu chuyện cũng giúp các con không còn sợ hãi thế giới xung quanh mình, và những câu chuyện ấy còn cuốn các con tới những thế giới tuyệt đẹp như trong những chuyện cổ tích

- Thói quen đọc sách và kể chuyện cùng con sẽ tạo cho con niềm say mê đọc sách và cố gắng trở thành một đứa trẻ được mọi người yêu mến, giống như các bạn nhỏ trong truyện của con.

Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 16
Points : 52
Join date : 14/11/2010

Xem lý lịch thành viên http://double1-doublefun.dust.tv

Về Đầu Trang Go down

Re: Bàn về chuyện tự học

Bài gửi by comnam94 on Fri 29 Apr 2011, 3:11 pm

bộ định giữ trẻ hay là có kế hoạch lập gia đình hay sao mà tính tới chuyện này rồi Hi hi
avatar
comnam94
Admin

Tổng số bài gửi : 230
Points : 369
Join date : 14/11/2010
Age : 23

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bàn về chuyện tự học

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết